Bệnh viêm khớp dạng thấp và cách điều trị hiệu quả

Bệnh viêm khớp dạng thấp và cách điều trị hiệu quả

Viêm khớp dạng thấp là một dạng đặc biệt của chứng viêm khớp. Khác với chứng viêm xương khớp và thường xuyên gặp ở những người lớn tuổi, đây là căn bệnh mãn tính có tính quá trình, tính đối xứng và gây suy nhược, ảnh hưởng đến các bộ phận khác như tim, phổi, các mạch máu nhỏ, dây thần kinh và mắt.

Bài viết nổi bật:

Bệnh viêm khớp dạng thấp

Bệnh viêm khớp dạng thấp

1. Nguyên nhân gây bệnh

- Nguyên nhân gây bệnh: Viêm khớp dạng thấp xảy ra khi các tế bào bạch cầu có chức năng chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn và virút di chuyển từ máu vào trong màng bao quanh khớp. Các tế bào bạch cầu này xuất hiện và gây ra phản ứng viêm tại khớp do việc tạo ra các chất gây viêm như TNF-alpha, protein. Theo năm tháng, tình trạng viêm đó sẽ làm tổn thương sụn, xương, gân và dây chằng ở gần khớp và dần dần làm biến dạng khớp. Ngoài ra, một số nguyên nhân khác có thể tác động lên tình trạng phát triển bệnh như yếu tố di truyền, lối sống, hoàn cảnh môi trường, hút thuốc lá và do virút.

  • Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính (70-80% bệnh nhân là nữ) và tuổi (60-70% gặp ở người trên 30 tuổi).
  • Di truyền: viêm đa khớp dạng thấp có tính gia đình, có liên quan với tổ chức HLA DR4 (gặp 60-70% bệnh nhân có yếu tố này, trong khi tỷ lệ này ở cộng đồng chỉ là 30%).
  • Các yếu tố thuận lợi khác: môi trường sống ẩm thấp, cơ thể suy yếu mệt mỏi, nhiễm lạnh, phẫu thuật, hút thuốc lá nhiều.

Hút thuốc lá gây bệnh viêm khớp dạng thấp

Hút thuốc lá là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc bệnh

2. Triệu chứng:

- Viêm khớp dạng thấp thường rất khó phát hiện, vì ở mỗi người khác nhau thì biểu hiện lại khác nhau; và thường thì khi bệnh phát lên sẽ làm cho các bộ phận cơ thể đều bị viêm, nhưng khi dịu lại thì người ta lại khoẻ mạnh bình thường.
- Mặt khác các triệu chứng như cứng khớp, đau khớp vào buổi sáng lại rất giống với các chứng viêm khớp bình thường nên bệnh nhân thường không nhận diện được bệnh.
- Khi bệnh đang ở giai đoạn đầu ,kể cả khi chụp X-quang và xét nghiệm cũng không thể chuẩn đoán được bệnh, mà phải tổng hợp các yếu tố nêu trên và triệu chứng thì các bác sĩ chuyên khoa mới có thể kết luận được việc bạn có mắc chứng viêm khớp dạng thấp hay không.
Triệu chứng của viêm khớp dạng thấp
Triệu chứng của viêm khớp dạng thấp
+ Các dấu hiệu cơ bản để nhận biết viêm khớp dạng thấp gồm :
  1. Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ.
  2. Sưng đau kéo dài tối thiểu 3 khớp trong số các khớp sau: ngón tay, cổ tay, khuỷu, gối ,cổ chân, ngón bàn chân .
  3. Sưng đau 1 trong 3 vị trí: khớp ngón tay, khớp ngón chân, khớp cổ tay.
  4. Sưng khớp đối xứng.
  5. Có hạt dưới da.
  6. Phản ứng tìm yếu tố dạng thấp (+).
  7. Diễn biến trên 2 tháng

- Thường ở giai đoạn đầu, bệnh nhân sẽ bắt gặp các triệu chứng như : đau và cứng khớp xảy ra ở nhiều khớp giống nhau (tính đối xứng) trên cơ thể. Thường là vào buổi sáng và kéo dài hơn 30p, đồng thời người bệnh cũng hay cảm thấy mệt mỏi, giảm cân và có triệu chứng như cảm cúm.

- Viêm khớp dạng thấp có xu hướng ảnh hưởng đến các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân. Dễ nhận biết là ở các khớp tay cách xa đầu ngón tay trong khi những bệnh viêm khớp thường lại xảy ra ở các khớp gần hơn.

Đối tượng nào dễ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp ?

- Theo các thống kê thì có khoảng 0,5% - 1,5% người trên toàn thế giới mắc chứng bệnh này. Độ tuổi trung bình từ 30-50 và đặc biệt là nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

- Cũng có một số trường hợp đặc biệt, bệnh này có thể tấn công trên em từ 6 tháng tuổi trở lên và được gọi là viêm khớp dạng thấp vị thành niên tự phát

3. Cách chữa trị

Không có điều trị đặc hiệu cho bệnh viêm khớp dạng thấp, việc điều trị chỉ nhằm mục đích giảm tình trạng viêm của khớp và dự phòng làm chậm quá trình tổn thương khớp. Điều trị giai đoạn sớm làm giảm nguy cơ người bệnh bị tổn thương các khớp. Thông thường việc điều trị chủ yếu là dùng thuốc, song đôi khi cần phải kết hợp với phẫu thuật trong một số trường hợp có biến dạng khớp nặng.

- Thuốc:

  • Nhóm khám viêm không steroid (NSAIDs): giúp giảm đau và làm giảm tình trạng viêm. Tuy nhiên chúng sẽ có những tác dụng phụ khi dùng liều cao và kéo dài như ù tai, loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, tổn thương ganthận hoặc những vấn đề lên hệ tim mạch. Khi dùng NSAIDs nếu dùng rượu bia càng làm cho các tác dụng phụ dễ xảy ra hơn.
  • Nhóm steroid: giúp làm giảm viêm, đau và làm chậm sự tổn thương khớp. Việc sử dụng steroid trong thời gian ngắn có thể làm bệnh nhân cảm thấy tốt hơn về bệnh nhưng việc sử dụng lâu dài theo năm tháng có thể sẽ làm giảm hiệu quả của thuốc và mang lại nhiều tác dụng không mong muốn như ù tai, mỏng xương, sụt cân và dễ mắc bệnh đái tháo đường.

Uống thuốc và châm cứu

Uống thuốc và châm cứu

  • Nhóm thuốc tác động lên khớp (DMARDs): hydroxychloroquine, sulfasalazine, minocycline hay methotrexate thường dùng vào giai đoạn sớm khi ảnh hưởng của bệnh lên khớp chưa nhiều và thuốc giúp cứu lấy các mô khớp còn lại.
  • Nhóm thuốc ức chế miễn dịch: tác động lên hệ miễn dịch của cơ thể nhằm tấn công và loại bỏ những bào có liên quan gây ra bệnh. Một số thuốc thường dùng như leflinomide, azathioprine, cyclosporine, cyclophosphamide.
  • Nhóm ức chế TNF-alpha: như cytokine hoặc tế bào protein hoạt động như tác nhân kháng viêm làm giảm đau, sưng khớp, cứng khớp vào buổi sáng. Tuy nhiên, việc dùng nhóm ức chế TNF-alpha có thể dẫn tới một số tác dụng không mong muốn như làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, nhiễm lao hoặc nấm hay rối loạn máu.

- Phẫu thuật:

Nếu như việc dùng thuốc không đem lại hiệu quả như mong muốn và làm biến dạng khớp nhiều thì việc chỉ định phẫu thuật nhằm sửa chữa khớp hay làm giảm đau sẽ được xét tới. Việc chỉ định phẫu thuật nên được xem xét bởi các bác sĩ chuyên gia về chỉnh hình khớp.